Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

Phiên toà kangaroo

Nguyễn Đình Đăng
nguendinhdang.wordpress.com
Đêm qua lần đầu tiên tôi mơ thấy mình vẽ một bức tranh, nhưng không tuân theo trình tự mà tôi đã đúc kết từ kỹ thuật vẽ nhiều lớp của các bậc thầy cổ điển như vẽ lót, vẽ phủ, vẽ đắp, rồi vẽ láng. Tệ hơn, toile vẽ không căng phẳng, không được lót cẩn thận, khiến sơn dầu thấm loang lổ cả ra phía sau. Kết quả là bức tranh trông chẳng ra gì, vô giá trị, phải vứt đi. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình toát cả mồ hôi. Thật là một cơn ác mộng.
Phiên toà kangaroo
Kangaroo (kăng-gu-ru) là tên loài chuột túi sinh sống ở châu Úc, có đầu nhỏ, hai tai to, hai chân trước ngắn ngủn, hai chân sau lực lưỡng với một cái đuôi to và dài dùng làm chỗ dựa.
Kangaroo di chuyển bằng cách dùng hai chân sau làm bàn đạp để nhảy phốc, “đi tắt đón đầu”, nhằm mau chóng rời khỏi vị trí hiện tại để đạt tới một cái đích nào đó. Thuật ngữ phiên tòa kangaroo đã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1853 tại Texas, để chỉ kiểu xử án “đốt cháy giai đoạn” tựa như những cú nhảy của con kangaroo. Theo định nghĩa của từ điển Webster, phiên tòa kangaroo là “phiên tòa giả hiệu, bỏ qua hoặc áp dụng sai lạc các nguyên tắc của luật pháp và công lý”, như từ chối những quyền tố tụng cơ bản của bị cáo và luật sư trong đó có quyền triệu tập người làm chứng, quyền loại bỏ bằng chứng sai trái và quyền thẩm vấn, quyền từ chối quan tòa hay luật sư do thiên vị hay mâu thuẫn quyền lợi, quyền không buộc tội chính mình, quyền tự bào chữa, và quyền kháng án. Phiên toà kangaroo nhảy vội đến kết luận với một bản án đã có từ trước khi phiên tòa diễn ra, tiếng Việt gọi nôm na là “án bỏ túi” [1]. Phiên toà xử tiến sĩ luật khoa Cù Huy Hà Vũ ngày 4/4/2011 vừa qua đã hội đủ mọi tiêu chí[2] để trở thành một điển hình sách giáo khoa của một phiên toà kangaroo (hay phiên toà “con cóc nhảy”, nếu thích chuyển ngữ cho “thuần Việt”). Không chỉ các luật sư, mà tất cả những ai đã theo dõi phiên toà cũng có thể nhận thấy điều đó.


Jean de La Fontaine từng viết bài thơ ngụ ngôn “Le Loup et l’Agneau” kể về con chó sói và con cừu non cùng ra suối uống nước. Con sói muốn ăn thịt con cừu bèn tìm đủ cách buộc tội con cừu. Đầu tiên con sói bảo con cừu làm bẩn nước suối của con sói. Bị con cừu bẻ: “Thưa ông, ông uống ở thượng lưu, tôi uống ở hạ lưu, thì chỉ có ông làm bẩn nước của tôi chứ làm sao tôi có thể làm bẩn nước của ông được?”, con sói nói: “Năm ngoái mày đã phỉ báng tao!” Con cừu trả lời: “Thưa ông, năm ngoái tôi chưa ra đời.” Con sói nói: “Thế thì thằng anh mày đã phỉ báng tao!” Con cừu đáp: “Thưa ông tôi là con một.” Con sói rống lên: “Thế thì một đứa trong lũ chúng mày đã nói xấu tao, thằng chăn chúng mày đã nói xấu tao, con chó chăn chúng mày đã nói xấu, tao phải trả thù!” Thế rồi con sói vồ con cừu nhai ngấu nghiến. La Fontaine kết luận: “Lý lẽ kẻ mạnh bao giờ cũng thắng” (La raison du plus fort est toujours la meilleure).

Tại phiên toà ngày 4/4/2011 vừa qua, nhà cầm quyền đã biểu dương sức mạnh của mình với một dàn công an chìm nổi, rào chắn, dùi cui, xe phun nước, xe cứu thương, xe bus, v.v. Nhân dân bị ngăn cấm vào dự phiên toà, bị nạt nộ, bị xô đẩy, bị bắt bớ. Cả một bộ máy quyền lực với những công cụ ghê gớm của nó đã được giương ra với ý định đè bẹp ý chí của một cá nhân, làm gương cho những kẻ khác. Thế nhưng lần này cá nhân đó – ông Cù Huy Hà Vũ – lại hiểu rất rõ và “tin tưởng tuyệt đối” vào lý tưởng của mình trong khi những người thừa hành nhiệm vụ đàn áp ông lại tỏ ra ngượng ngập, lúng túng, thiếu hiểu biết chuyên môn. Kết cục thì như mọi người đều đã thấy rõ: Ông Vũ đã không bị khuất phục. Ông sẵn sàng chịu bất cứ cái án nào toà phán cho ông. Ông bình tĩnh nói: “Tổ quốc và nhân dân Việt Nam sẽ phá án cho tôi, công dân Cù Huy Hà Vũ!” Trong đoạn video phát trên truyền hình Hà Nội khi những người công an vội vã đưa ông Vũ, tay bị còng, ra xe sau khi phiên toà kết thúc, tôi còn thấy ông Vũ mỉm cười. Những vụ xử án kiểu cóc nhái, chuột túi như thế này diễn ra liên miên tại Việt Nam thường làm tôi tủi hổ. Vậy mà phiên toà kangaroo lần này lại khiến tôi cảm thấy tự hào, vì Việt Nam vẫn còn những người như ông Cù Huy Hà Vũ.

Như thế có nghĩa là đất nước này sẽ có ngày được hưởng Dân Chủ – Tự Do thực sự. Phiên toà xử tiến sĩ luật khoa Cù Huy Hà Vũ dường như đã cho thấy cái ngày đó đang tới gần. “Những con sói sẽ ngừng hú và sẽ chỉ còn tiếng hát của vầng trăng”[5].
Tokyo 8 – 10 /4/2011

[1] http://en.wikipedia.org/wiki/Kangaroo_court
[2] Theo LS Nguyễn Thị Dương Hà, toà án đã từ chối yêu cầu của TS Cù Huy Hà Vũ muốn thay thế toàn bộ hội đồng xét xử (HĐXX) vì cáo trạng luôn buộc tội ông đòi xóa bỏ độc quyền lãnh đạo của Đảng CSVN, mà tất cả ủy viên HĐXX đều là đảng viên CSVN, có nghĩa là sẽ không khách quan nếu những người này xét xử ông. Còn theo LS Trần Đình Triển – một trong 4 luật sư bào chữa cho ông Cù Huy Hà Vũ – HĐXX đã từ chối “công bố những chứng cứ, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án để các luật sư thẩm vấn, đã bỏ qua quy định tại Điều 214 của bộ luật tố tụng hình sự, và kết thúc phần xét hỏi”. Ông Triển cho biết: “Các luật sư chưa được hỏi, đi sâu vào đánh giá chứng cứ và để chuyển sang phần tranh tụng, có nghĩa là cắt đi cái phần xét hỏi đi vào trực tiếp chứng cứ của vụ án để đánh giá có tội hay không có tội”.
Xem: Nguyễn Thị Dương Hà, Đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm 04/4/2011 đối với TS Cù Huy Hà Vũ.
Xem: Thanh Phương, Thụy Mỹ, và Tú Anh, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bị tuyên án 7 năm tù. Luật sư Dương Hà tố cáo một phiên tòa trái pháp luật, RFI, 4/4/2011.
[3] http://vi.wikipedia.org/wiki/Cù_Huy_H à_V ũ
[4] Xem điều 69 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992).
[5] George Carlin (1937 – 2008) – nghệ sĩ hài và nhà phê bình xã hội người Mỹ, từng đoạt 5 giải Grammy và Mark Twain Prize for American Humor (Giải Hài cuả Mỹ mang tên đại văn hào Mark Twain).
New posts:



Share
Xem thêm »

Quân đội Trung Quốc với kế hoạch Hỏa tốc Đông phương

( Vietnamnet) Sự gia tăng vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế được hỗ trợ bởi sự hiện diện ngày một lớn của quân đội trong các vấn đề khu vực và toàn cầu. Tham vọng của Bắc Kinh được mở rộng bằng lời thúc giục các nhà lãnh đạo Trung Quốc chủ động hơn trong nỗ lực bảo vệ các lợi ích quốc gia. Lời kêu gọi ấy đã làm dấy lên mối quan ngại về khả năng triển khai quân đội đại lục để bảo vệ các khu vực biên giới rộng lớn.
Bài viết của tác giả Christina Y Lin đăng trên Atimes
Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng Kyrgyzstan tháng 4/2010, khi biểu tình bạo lực đã lật đổ chính phủ, Trần Tương Dương - nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại Trung Quốc (CICIR), kêu gọi một chiến lược “ngoại vi lớn” để đảm bảo an toàn cho các khu vực lân cận của Trung Quốc.
Kêu gọi của Trần được lặp lại bởi chính các nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc về khả năng can thiệp tại Trung Á. Một tờ báo Hong Kong trong bài bình luận đăng tải tháng 1 lập luận rằng, đường sắt và ý nghĩa quân sự quan trọng của nó rất cần được đưa vào ống kính chiến lược của các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi nước này xuất khẩu công nghệ đường sắt, đồng thời củng cố kế hoạch gia tăng sức mạnh quân sự.

Hỏa tốc Đông phương

Trên thực tế, như thể áp dụng tầm nhìn chiến lược này, ngày 17/11/2010, quân đội Trung Quốc (PLA) lần đầu tiên đã đáp chuyến tàu cao tốc Thượng Hải - Nam Kinh để trở về doanh trại sau khi hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm an ninh tại Triển lãm thế giới Thượng Hải 2010.
Theo Văn phòng đại diện quân sự của PLA tại Cục Đường sắt Thượng Hải, tuyến đường sắt Thượng Hải - Nam Kinh là tuyến liên thành phố, có thể đạt tốc độ tối đa 3.450km/h. Một số nhà phân tích quân sự Trung Quốc coi đây là con đường lý tưởng để PLA “phô trương” quân đội và các thiết bị nhẹ trong hoạt động quân sự hơn là chiến tranh.
Trung Quốc cũng đã xây dựng các tuyến đường sắt tới Tây Tạng, đang phát triển mạng lưới đến Nepal, và lên kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc nối tới Lào, Singapore, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar. Tháng 11 năm ngoái, Ngoại trưởng Iran khi ấy là Manouchehr Mottaki tuyên bố: Iran, Afghanistan và Tajikistan đã nhất trí hợp tác với Trung Quốc để xây dựng tuyến đường sắt Trung Quốc - Iran từ Tân Cương đi qua Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan và điểm kết thúc tại Iran.

Trung Quốc còn có một kế hoạch dài hơn để kết nối tới tận phía tây Iraq (nơi Trung Quốc đầu tư lớn vào dầu khí), Syria, Thổ Nhĩ Kỳ và đến châu Âu. Đây là một phần của Mạng lưới Đường sắt xuyên Á (TAR) hay Tuyến Đường sắt Tơ lụa kết nối Trung Quốc với châu Âu, sử dụng Trung Đông như một trung tâm quá cảnh.
Với mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc đạt tốc độ tối đa 486,1km/h và sự xông xáo của PLA trong nỗ lực nâng cấp các khả năng chiến đấu tầm xa thông qua việc sử dụng đường sắt để hỗ trợ hậu cần cho lực lượng không quân (PLAAF) và các dự án quân sự khác, thì chiến lược “Hỏa tốc Đông phương” trên Con đường Tơ lụa mới hồi sinh sẽ có tác động quân sự và chiến lược quan trọng với các lợi ích Mỹ và phương Tây trong khu vực.

Quân sự hóa Con đường Tơ lụa Sắt PLA đã tích cực tham gia vào hoạt động thiết kế, lên kế hoạch cho đường sắt cao tốc Trung Quốc. Ví dụ, Cục Đường sắt Thành Đô có 14 sĩ quan quân sự đảm nhận những vị trí hàng đầu trong các ban ngành chủ chốt ở mọi ga chính, thực hiện nhiệm vụ phối hợp hoạt động lên kế hoạch, thiết kế, xây dựng và giám sát đường sắt.

Cục Đường sắt Thẩm Dương nằm ở vị trí chiến lược của Liêu Ninh - tỉnh giáp Triều Tiên, Nội Mông và Hoàng Hải cũng đã thiết lập cơ cấu quản lý vận chuyển quân sự khu vực với PLA. Theo Ban vận chuyển quân sự thuộc Tổng cục Hậu cần PLA (GLD), hơn 1.000 nhà ga đã được trang bị những phương tiện vận tải quân sự, từ đó thiết lập một mạng lưới đường sắt hỗ trợ toàn diện nhằm nâng cao khả năng chiến lược của PLA.
GLD đã phối hợp với Bộ Đường sắt trong năm 2009 nâng cấp 20 tuyến đường sắt cũ tại Trung Quốc với khả năng vận chuyển quân sự. Năm 2009, một lượng tiền lớn đã được đầu tư để xây dựng các cơ sở vận tải quân sự cho một số nhà ga.

Việc đầu tư này nhằm đáp ứng các nhu cầu quân sự để sử dụng cho các hoạt động kiểu như Sứ mệnh hòa bình của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) trong năm 2010. GLD đã tích cực tham gia vào toàn bộ quá trình xây dựng đường sắt, từ lên kế hoạch, chương trình đầu tư tới công đoạn hoàn tất mạng lưới. Ví dụ, khi xây dựng đường sắt từ Côn Minh - thủ phủ tỉnh Vân Nam tới Nam Ninh - thủ phủ Quảng Tây, để đáp ứng yêu cầu của quân đội, Bộ Đường sắt đã phải xem xét lại một phần tuyến đường và kéo dài thêm 12,4km khiến chi phí gia tăng lên tới 1,55 tỉ nhân dân tệ (232,66 triệu USD).

Với chính sách không ngừng mở rộng của Trung Quốc và các dự án cơ sở hạ tầng hướng tới các nước láng giềng, một số nhà phân tích bắt đầu lo ngại về khả năng quân sự hóa trên Con đường Tơ lụa Sắt.

New posts:




Share
Xem thêm »

Nguy cơ mất mũi Cà Mau

(Thanhnien Online) Biển đang “gặm” dần mũi Cà Mau. Tình trạng đã đến mức báo động khiến có những lo ngại mũi đất tận cùng của cực nam Tổ quốc sẽ biến mất...
Ở tọa độ 8 độ 37 phút 30 vĩ bắc và 104 độ 43 phút kinh đông (thuộc xã Đất Mũi, H.Ngọc Hiển, Cà Mau), mũi Cà Mau là vị trí mà nhiều người VN khát khao ít nhất một lần được đặt chân tới. Lịch sử vùng đất này luôn tiếp nối câu chuyện đất sinh sôi lấn dần ra biển. Vùng đất trẻ còn được coi như một biểu tượng tinh thần của không chỉ cư dân Đất Mũi. Nhà thơ Xuân Diệu từng cảm hứng: “Mũi Cà Mau: vùng đất tươi non/ Mấy trăm đời lấn luôn ra biển/ Phù sa vạn dặm tới đây tuôn/ Lắng lại; và chân người bước đến” (Mũi Cà Mau).

Tuy nhiên, một thực tế là trong những năm gần đây, vùng đất này đang chịu cảnh xói lở khiến nhiều người đến đây phải chạnh lòng. Nhiều vị trí, vài năm trước còn đó, giờ đã mất bởi đà xâm thực vốn chưa từng diễn ra với vùng đất “Mũi tàu Tổ quốc” này. “Nếu lấy bản đồ trước đây so với bây giờ, chúng ta sẽ thấy khu vực mũi Cà Mau đã có nhiều thay đổi”, một cán bộ công tác tại Sở NN-PTNT tỉnh Cà Mau chỉ cho chúng tôi xem những biến dạng đến giật mình của mũi đất nổi tiếng này.

Được biết, từ khi khu đất này trở thành khu du lịch (KDL) sinh thái (năm 2001) đến nay, địa phương đã không ít lần cho làm bờ kè để giữ đất. Tuy nhiên, nhiều công trình với các chất liệu khác nhau đều không tồn tại nổi trước đà xâm thực dữ dội của biển, chỉ còn lại dấu tích là những cọc dừa, cọc bê tông nằm khẳng khiu giữa biển. “Ăn” hết những bờ kè giữ đất, biển “nuốt” luôn những công trình du lịch và hiện đang tiến gần đến công trình biểu tượng mũi Cà Mau.

Rừng phòng hộ ven biển đã bị xâm phạm. Thêm vào đó, khi xây dựng khu du lịch, người ta đã đưa cơ giới vào đào xới, lấy cát từ các bãi bồi lắng. Điều này đã tác động xấu vào tiến trình diễn thế của tự nhiên, gây sạt lở - Ông Lý Hoàng Tiến, Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Đất Mũi


Đưa chúng tôi ra khu đất tận cùng của chóp mũi, anh hướng dẫn viên du lịch tên Dương Văn Thắng chỉ về các thanh cọc phía xa nói đó là công trình bờ kè chắn sóng đã bị sóng đánh hư. Cách bờ khoảng 10m về hướng đông là hàng cọc bê tông đang xây dở dang, nhưng đã bị sóng “đánh phủ đầu” để tiếp tục lấy đi phần đất bên trong. Sát con lộ, một dãy kè bằng cây tràm “dã chiến” vừa được đóng, nhưng cũng thật mong manh và biển đã bắt đầu ăn tới con lộ. Từ con lộ này, qua một khoảnh đất nữa là biểu tượng mũi Cà Mau...

Phía trong biểu tượng mũi Cà Mau về phía tây là cột mốc tọa độ quốc gia. Trước đây, sau khi tham quan cột mốc đặc biệt này, du khách sẽ được dẫn đến một con đường nhỏ len qua rừng đước để đi từ đông sang tây mũi Cà Mau. Phía ngoài còn có con đường xi măng uốn cong theo bờ biển, dọc theo là những chòi gác để khách nghỉ chân và ngắm cảnh. Tuy nhiên, đến thời điểm này con đường đã biến mất. Khách cũng không thể đặt chân lên các căn chòi gác vì số nằm trong thì bị sóng biển đánh tới chân, số khác thì đã nằm... chơi vơi ngoài biển. Đưa khách qua mỏm đất nằm chếch về hướng tây mũi Cà Mau, nơi những rẻo đất khẳng khiu, tơi tả sau những cú đánh của sóng biển, một nhân viên của KDL mũi Cà Mau cho biết, trong Tuần lễ du lịch Đất Mũi diễn ra hồi tháng tư năm ngoái, người ta đã cho làm một đoạn đường tạm để du khách và quan chức có thể đi từ đông sang tây. Tuy nhiên chẳng bao lâu sau, biển cũng đã “hô biến” luôn đoạn đường này. Bây giờ, chỉ có thể đứng ở rẻo đất chóp mũi để nhìn ra căn chòi gác bị sóng biển cách ly khỏi bờ. Chếch về phía tây mũi đất là một khóm cây mắm đã “chia tay” với bờ. Anh này nói trước đây những vị trí trên là một phần đất liền. Chỉ sau mấy năm nó đã “thuộc về biển cả”.

Không chỉ có mũi đất nằm trong KDL mũi Cà Mau, cả dãy bờ biển chạy dọc về hướng đông cũng đang hứng chịu cảnh biến xâm thực. Ông Nguyễn Quốc Khải, cán bộ quản lý KDL Lý Thanh Long, cho biết khoảng 4 năm nay, biển đã lấn vào đất liền tại KDL này trên dưới 300m. Trước đây, vùng đất này hằng năm được biển mang phù sa về bồi lắng. Tuy nhiên, chỉ khoảng 4 năm nay, biển đã “đổi tính” lấy mất bãi cát vàng, tiến đến ăn bứt bờ kè phía trong bãi cát khoảng 50m. Xong bờ kè, sóng biển lại “thịt” luôn những cây dương được trồng phía trong, rồi “gặm” luôn sân bóng đá. Đánh dạt các công trình du lịch, đến hồ nuôi cá cảnh quan nằm sâu trong đất liền cũng chẳng yên. Chạy dọc theo KDL Lý Thanh Long, con lộ xi măng rộng dẫn đến một nhà hàng thủy tạ cũng bị biển “nuốt” trôi. Nhà hàng hiện đã tách xa khỏi đất liền.


Do thời tiết hay con người?
Ông Lý Hoàng Tiến, Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Đất Mũi cho biết nhiều khu đất, trong đó có những khu đất nằm trong quy hoạch dự án nhưng chưa kịp triển khai xây dựng cho đến nay đã không còn. Đơn cử như khu đất phía sau biểu tượng mũi Cà Mau, Bộ Công an dự kiến xây dựng khu nhà nghỉ, nhưng đã bị biển lấy mất. Ông Tiến tâm sự, gắn bó với vùng đất này nhiều năm ông hiểu biển ở đây “có bồi có lở”, đặc biệt là khu vực phía đông mũi Cà Mau. Nhưng mức độ xói lở không nghiêm trọng như bây giờ. Có nhiều bận ra khảo sát khu vực bờ cát thấy có các đụn cát được bồi lắng, chưa kịp mừng, mấy ngày sau trở ra thì đụn cát đã... mất tiêu

Ông Tạ Huỳnh Vĩnh Trường, Giám đốc Công viên văn hóa mũi Cà Mau nói, ở đây nhiều năm ông đã chứng kiến có những thay đổi bất thường của thời tiết. Như 2 năm nay triều cường đã đột ngột tăng cao. Vào những ngày cao điểm, nước biển đã dâng lên cao hơn những năm trước chừng 2 gang tay, nhấn chìm nhiều dãy đất thuộc mũi Cà Mau. Căn nhà làm việc của BQL cũng bị nước biển dâng ngập. Tương tự, anh Nguyễn Quốc Khải cho biết từ năm 2009 đến nay, vào thời điểm tháng 10 âm lịch có lúc triều cường dâng cao đã cuốn trôi nhiều vật dụng tại KDL Lý Thanh Long. Anh Khải cho rằng chính sự thay đổi triều cường là nguyên nhân dẫn đến sạt lở.

Nhưng ông Tiến thì không cho như vậy. Theo ông, bồi lở là chuyện của tự nhiên, nhưng riêng tại khu vực mũi Cà Mau thì nguyên nhân chính là do sự tác động của con người. Người dân Cà Mau có cụm từ “cây mắm đi trước cây đước theo sau” để chỉ quá trình lấn ra biển của vùng đất bồi lắng. Cây mắm giữ vai trò tiên phong lấn ra biển. Rễ mắm bám chặt vào đất, giữ phù sa, bồi lắng, tích tụ lâu ngày trở thành vùng đất mới. Khi cây mắm hoàn thành sứ mệnh thì đến lượt cây đước theo sau để “khẳng định chủ quyền” của đất liền. Một thời gian, rừng phòng hộ ven biển đã bị xâm phạm. Thêm vào đó, khi xây dựng KDL, người ta đã đưa cơ giới vào đào xới, lấy cát từ các bãi bồi lắng. Điều này đã tác động xấu vào tiến trình diễn thế của tự nhiên, gây sạt lở. Tuy sau đó những người có trách nhiệm cho xây dựng bờ kè giữ đất, nhưng do xây dựng không đúng kỹ thuật nên các bờ kè chỉ “làm mồi” cho sóng biển.

Kỹ sư Tô Quốc Nam, Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Cà Mau cho biết tỉnh đang nhờ Viện Khoa học thủy lợi khảo sát, nghiên cứu đánh giá những tác động của tình trạng sạt lở. Nhưng để xây dựng các công trình chống lở phải cần có kinh phí rất lớn; để xây dựng mỗi km bờ kè, theo mức chung cần đến 90 tỉ đồng. Hiện, nhóm kỹ sư của Sở đang có giải pháp “sống chung với sóng” được gọi là “giải pháp mềm” chỉ tốn khoảng 20% kinh phí so với mức đầu tư chung đang chờ tỉnh thông qua. Hy vọng sẽ sớm được triển khai.



New post:


Share
Xem thêm »

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011

Viễn cảnh xử lý và giải quyết xung đột ở Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông]

Ralf Emmers
Đại học Công nghệ Nanyang
Ralf Emmers là giáo sư và người điều phối Chương trình Chủ nghĩa Đa phương và Chủ nghĩa Khu vực [Multilateralism and Regionalism Program] tại trường S.Rajaratnam School of International Studies (RSIS) thuộc Nanyang Technological University, Singapore. Ông là tác giả của Geopoilitics and Maritime Territorial Disputes in East Asia (Routkegde, 2010), Cooperative Security and the Balance of Power in ASEAN and the AFF (Routledge Curzzon, 2003) và Non-Traditional Security in the Asia-Pacific: the Dynamics of Securitization (Marshall Cavendish, 2004).
Người dịch: Phạm Anh Tuấn
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011
Nhìn chung, tình hình tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa đã phản ánh xu hướng các mối quan hệ trong khu vực. Sự nồng ấm trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á vào đầu những năm 2000 đã góp phần tạo ra sự tiến triển trong xử lý xung đột. Việc ký kết Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa cho thấy rõ các bên liên quan đã theo đuổi các yêu sách của mình theo cách ôn hòa. Tuyên bố này công khai lên án việc sử dụng vũ lực ở Biển Nam Trung Hoa và nó góp phần vào việc làm dịu căng thẳng giữa các nước có yêu sách lãnh thổ. Tuyên bố này còn được thấy là dấu hiệu Trung Quốc mong muốn tôn trọng các nguyên tắc và chuẩn mực ASEAN được nêu trong Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (TAC) của ASEAN và Trung Quốc muốn chung sống hòa bình với các nước láng giềng Đông Nam Á. Lập trường hòa giải của Trung Quốc còn được tiếp tục chứng minh khi Trung Quốc là quốc gia đầu tiên ngoài ASEAN đã ký TAC vào năm 2003. Rút cục tuyên bố năm 2002 đã được thừa nhận là một “bước phát triển có ý nghĩa” bởi vì các bên ký tuyên bố này đã cam kết tiền hành các hoạt động hợp tác và đẩy mạnh khả năng đạt được thỏa thuận về các kế hoạch khai thác và phát triển chung.[2] Chẳng hạn, Tổng thống Phlippine Gloria Arroyo từng tuyên bố rằng thỏa thuận được ký tháng 3 năm 2005 giữa các công ty dầu khí của Trung Quốc, Việt Nam và Philippine nhằm tiến hành các cuộc khảo sát trước khi tiến hành thăm dò dầu khí ở quần đảo Trường Sa là sự triển khai đầu tiên các điều khoản của tuyên bố năm 2002.[3]

Tuy nhiên, bản tuyên bố này vẫn là một bước hụt trong việc thực hiện được mục đích ban đầu đề ra là đạt được một nguyên tắc ứng xử cụ thể mang tính ràng buộc cho Biển Nam Trung Hoa[4]. Nhiều nhà phân tích vẫn hoài nghi việc tuyên bố này khả dĩ cung cấp một khung thể chế bền vững cho việc xử lý xung đột, nhất là do chỗ nó thiếu các cơ chế ngăn ngừa hoặc giải quyết cái gốc của xung đột[5]. Nó giống như một tuyên bố chính trị hơn là một hiệp ước và nó chỉ dựa trên sự đồng thuận và cái “mẫu số chung nhỏ nhất”, cái sự đồng thuận ấy không ràng buộc về pháp lý mà cũng chẳng mang hiệu lực bắt buộc phải thực thi. Mặt khác, cái tuyên bố ấy lại tránh không đả động đến vấn đề chủ quyền bởi lẽ tất cả các nước tranh chấp chủ quyền đều kiên định lập trường về các yêu sách lãnh thổ của mình. Ngoài ra để cho bản tuyên bố này được phê chuẩn thì người ta đã buộc phải có những nhượng bộ lớn và làm cho nội dung của nó “luyễnh loãng” đi trong đó có việc bản tuyên bố này hoàn toàn không nhắc cụ thể đến những gì thuộc về địa lý.

Chẳng có tiến bộ lớn nào đạt được trong xử lý xung đột kể từ năm 2002. Việc không thể thực thi bản tuyên bố này và không thể triển khai tiếp một bộ ứng xử là do nhiều yếu tố. Bắc Kinh dường như chỉ nghĩ tới chuyện ủng hộ một bộ ứng xử đa phương không mang tính ràng buộc và chỉ giới hạn bộ ứng xử đó vào quần đảo Trường Sa đồng thời họ tập trung vào chuyện đối thoại và duy trì sự ổn định khu vực hơn là tập trung vào vấn đề quyền tài phán chủ quyền. Các quốc gia yêu sách chủ quyền đều không muốn nhượng bộ các yêu sách lãnh thổ của mình. Việc thiếu vắng một sự đồng thuận giữa các nước ASEAN về Biển Nam Trung Hoa cũng là điều xác đáng thôi. Mỗi nước thành viên ASEAN lại có một mối bang giao riêng biệt với Trung Quốc và họ không có cùng quan điểm đối với mối đe dọa tiềm tàng của Trung Quốc. Thêm vào đó, bản thân một số nước thành viên lại có yêu sách xung đột nhau về quần đảo Trường Sa, trong khi đó các nước còn lại thì bàng quan với vấn đề chủ quyền. Căn nguyên mất đoàn kết này gây khó khăn cho việc đạt được một lập trường chung và làm suy yếu ASEAN trong các cuộc đàm phán với Bắc Kinh.

Sự không cân xứng sức mạnh ở Biển Nam Trung Hoa ngày càng gia tăng do Trung Quốc tăng cường sức mạnh hải quân đã đặt câu hỏi về liệu ASEAN có đủ khả năng xử lý tranh chấp hay không. Người ta ngày càng bàn cãi nhiều về việc cách tiếp cận của ASEAN trong xử lý xung đột ở Biển Nam Trung Hoa liệu có làm giảm thiểu tác động của vấn đề phân bố sức mạnh không đồng đều ở đây. Diễn biến phân bố sức mạnh đã không gặp phải đối thủ lẽ ra nằm ở chỗ ASEAN phải thúc đẩy thực thi các cơ chế xử lý xung đột. Thay vì thế tình hình ngày càng leo thang tại đây kể từ cuối năm 2006 và trên đất liền Trung Quốc ngày càng tỏ ra kiên quyết không úp mở khi họ đưa ra những yêu sách lãnh thổ biển.[6] Có một điểm quan trọng cần nhấn mạnh ấy là Trung Quốc không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra sự gia tăng căng thẳng ở Biển Nam Trung Hoa. Những hành động của các quốc gia tranh chấp khác đã tỏ ra chẳng có tác dụng gì trong việc xử lý tình hình.

Chẳng hạn, vấn đề lãnh thổ đã leo thang mạnh hơn do Philippine, Malaysia và Việt Nam đã đệ trình yêu sách lãnh thổ của họ lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp quốc. Các nước đã gia nhập công ước về Luật Biển (UNCLOS) trước năm 1999 phải đệ trình yêu sách bổ sung về các quyền kinh tế nếu thềm lục địa của họ vượt quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở lãnh hải. Trung Quốc đã tức giận phản ứng và gọi việc đệ trình này là một sự vi phạm quyền tài phán và chủ quyền của họ đối với Biển Nam Trung Hoa.[7] Mặc dù có thể lường trước được phản ứng trên của Trung Quốc bởi vì các yêu sách mới đưa ra đã chồng chéo lên yêu sách của chính Trung Quốc, song điểm quan trọng cần lưu ý là Bắc Kinh đã gửi kèm bản đồ hình chữ “U” đứt khút trong công hàm phản đối của họ, do đó đã khơi lại những nghi ngờ từng xảy ra trước đây ở Hà Nội, Kuala Lumpur và Manila[8]. Bắc Kinh đã thành lập Vụ chuyên trách các vấn đề biên giới và hải dương [Department of Boundary and Ocean Affairs] và tăng cường năng lực tuần tra với ý đồ tiếp tục khẳng định chủ quyền của họ đối với Biển Nam Trung Hoa.

Cuối cùng, sự gia tăng cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ trong địa hạt hàng hải lại càng gây phức tạp cho việc xử lý trang chấp ở Biển Nam Trung Hoa theo cách hòa bình. Vụ rắc rối liên quan đến việc hải quân Trung Quốc quấy rối tàu do thám The Impeccable của Mỹ và các tàu ngư chính hoạt động tuần tiễu tại vùng biển phía nam đảo Hải Nam hồi tháng 3 năm 2009 đã gây thêm lo ngại cho một số nước Đông Nam Á. Tuy Trung Quốc tuyên bố rằng tàu Impeccable đã tham gia “các hoạt động trái phép” tại vùng biển đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, song sự cố này còn được hiểu như là một ví dụ cho thấy Trung Quốc có thái độ kiên quyết ở Biển Nam Trung Hoa. Tại Diễn đàn Khu vực ASEAN [ARF] hồi tháng 7 năm 2010 Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton đã đối phó lại Trung Quốc trong vấn đề Biển Nam Trung Hoa bằng tuyên bố rằng khu vực này là một “lợi ích quốc gia” của Mỹ, điều này chắc chắn đã được xem là nguyên nhân khiến cho Bắc Kinh lo ngại. Ở Đông Nam Á xảy ra một nỗi lo lắng ấy là việc Trung Quốc và Mỹ ngay càng cạnh tranh mạnh mẽ có thể khiến Trung Quốc trở nên càng kiên quyết hơn trong ngoại giao và trong hoạt động hải quân ở Biển Nam Trung Hoa.[9] Vì thế chẳng có gì ngạc nhiên khi lãnh đạo các nước ASEAN đã đề nghị không nhắc tới Biển Nam Trung Hoa trong tuyên bố cuối cùng khi kết thúc cuộc gặp gỡ thượng đỉnh lần thứ hai với sự có mặt của Tổng thống Mỹ Barack Obama hồi tháng 9 năm 2010.

CÁC KỊCH BẢN GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT

Sau khi đã xem xét nỗ lực nhằm xử lý xung đột ở Biển Nam Trung Hoa, bây giờ chúng ta hãy tập trung vào các kịch bản giải quyết khác nhau. Vấn đề Biển Nam Trung Hoa khó giải quyết là bởi vì nó có nhiều yếu tố liên quan và còn bởi vì hiện nay các yêu sách chủ quyền chồng chéo nhau đã lên đến đỉnh điểm. Dùng phân xử bằng trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp không phải là một kịch bản thích hợp. Tất cả các nước yêu sách chủ quyền đều lặp đi lặp lại yêu sách của mình và họ không muốn nhượng bộ trong yêu sách lãnh thổ. Có nước thì từ chối thảo luận vấn đề quyền tài phán chủ quyền đối với các đảo hoặc có nước lại gửi yêu sách chồng chéo của họ tới Tòa án tư pháp quốc tế [ICJ] hoặc Tòa án Quốc tế về Luật biển. Các yêu sách này tương phản lại với các tranh chấp lãnh thổ khác ở Đông Nam Á. Chẳng hạn, hồi tháng 11 năm 2007 Singapore và Malaysia đã đệ trình lên ICJ để phân xử yêu sách chủ quyền của họ đối với đảo [Singapore gọi là Petra Branca còn Malaysia gọi là Pulau Baru Puteh]. Kết thúc 28 năm tranh chấp chủ quyền, tháng 5 năm 2008 tòa đã phân xử Singapore thắng kiện, nhưng đã phân xử hai bãi đá nhỏ hơn có tên là Middle Rocks thuộc về Malaysia.

Rõ ràng không thể dùng pháp lý để giải quyết các yêu sách bất đồng nhau ở Biển Nam Trung Hoa. Leni Stenseth nhận xét rằng “dường như không một quốc gia yêu sách nào đưa ra được một trường hợp dứt khoát trên phương diện pháp lý, còn luật pháp quốc tế dùng để giải quyết tranh chấp thì lại dường như chỉ mang ý nghĩa hạn chế[10].” So với tranh chấp liên quan đến các nước khác, Trung Quốc và Đài Loan đã đưa ra nhiều yêu sách dựa nhiều vào lịch sử nhất đối với Biển Nam Trung Hoa. Song, mặc dù tài liệu sử học và sự đầu tiên phát hiện ra lãnh thổ có thể cung cấp cơ sở để một quốc gia tham gia tranh chấp dùng đó làm lập trường, thế nhưng luật pháp quốc tế kể từ vụ tranh chấp giữa Trung Quốc và Đài Loan đã chứng minh một điều rằng các nguyên tắc nói trên là không đủ để xác định chủ quyền. Thay vì thế, cái tên do người đầu tiên phát hiện ra lãnh thổ đã đặt tạm buộc phải được bổ sung bằng sự liên tục sử dụng và cư ngụ trên lãnh thổ đó. Tên gọi xuất phát từ sự cư ngụ thậm chí có thể thay thế cho những yêu sách dựa trên lịch sử[11]. Thêm vào đó, rất khó chứng minh những yêu sách của Trung Quốc bởi vì theo truyền thống Khổng Giáo thì lãnh thổ được biểu thị dựa trên các vùng có ảnh hưởng chứ không dựa trên những đường ranh giới rõ rệt[12]. Bản thân UNCLOS không thể được đem áp dụng để giải quyết những tranh chấp lãnh thổ. Trong những trường hợp sử dụng UNCLOS thì UNCLOS quy định rằng “các quốc gia có yêu sách chồng chéo nhau phải giải quyết bằng đàm phán trung thực,”[13] song không có các đường ranh giới hàng hải nào được công nhận ở hầu hết các phần thuộc Biển Nam Trung Hoa và một số quốc gia yêu sách thậm chí đã không chỉ ra được những yêu sách cụ thể. Vì dầu mỏ được hiểu là cái đang bị đe dọa cho nên không chính phủ nào muốn mạo hiểu từ bỏ lợi ích quốc gia tại khu vực này. Thà rằng UNCLOS làm cho vấn đề trở nên dễ hiểu thì lại đi một nhẽ, đằng này trên thực tế nó lại làm cho các tranh chấp trở nên phức tạp và căng thẳng hơn.

Điều nghịch lý là nếu giải thích nghiêm ngặt UNCLOS thì có khi ngăn cản hầu hết sự phát sinh vùng kinh tế đặc quyền (exclusive economic zone – EEZ) dựa trên những đặc điểm của Biển Nam Trung Hoa và do đó giới hạn được tối đa các vùng nằm trong yêu sách chồng chéo nhau. Điều 121, Đoạn 3 nói rằng “Những khối đá nhô lên khỏi mặt nước nếu tự chúng không thể duy trì lâu dài sự cư trú hoặc đời sống kinh tế của con người thì sẽ không có bất cứ vùng kinh tế đặc quyền hoặc thềm lục địa nào,[14]”thay vì thế các khối đá đó chỉ được cho phép một lãnh hải là 12 dặm hải lý. Tuy nhiên, bởi vì không có các hướng dẫn cụ thể để phân biệt một khối đá với một hòn đảo, cho nên các thuật ngữ sử dụng vẫn tiếp tục bị bỏ ngỏ cho sự bất đồng và lợi dụng bởi các bên yêu sách lãnh thổ. Ngoài sự tranh cãi xoay quanh những gì cấu thành một hòn đảo thì cách áp dụng nghĩa của thềm lục địa để yêu sách lãnh thổ cũng đang gặp phải vấn đề tương tự. Mặc dù rất nhiều bên yêu sách đã viện dẫn sự mở rộng thềm lục địa để chứng minh luận cứ của họ, song điều này là “một cơ sở pháp lý chưa đầy đủ để yêu sách các hòn đảo là của mình.”[15] Vùng biển theo định nghĩa của UNCLOS có thể trao quyền khai thác các nguồn tài nguyên ở đó, song không trao bản thân các hòn đảo. Rút cục, chẳng có vị trí nào ở Trường Sa hoặc Hoàng Sa nằm cách bên yêu sách này hoặc bên yêu sách kia 200 dặm hải lý. Điều này có nghĩa là những khu vực được các bên yêu sách tuyên bố là EEZ không tránh khỏi nằm chồng chéo lên nhiều khu vực khác, điều này làm nảy sinh khả năng xung đột tiềm tàng.

MỘT CÁCH TIẾP CẬN KHẢ DĨ CÓ THỂ THÚC ĐẨY GIẢI QUYẾT BẾ TẮC

Do tính chất phức tạp của những yêu sách chủ quyền, những đề xuất thăm dò nhằm giải quyết tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa đều chủ yếu tập trung vào khai thác và phát triển chung kết hợp với việc tạm gác lại vấn đề chủ quyền. Cách tiếp cận này thường được coi là khả năng lựa chọn khả thi nhất để tăng cường hợp tác và ổn định trong vùng. Hiệp định Timor Gap giữa Australia và Indonesia, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam và những thỏa thuận song phương hiện nay khác về phân định đường ranh giới hàng hải đã được xem là các mô hình dựa vào đó xây dựng các kế hoạch khai thác và phát triển chung cho Biển Nam Trung Hoa.

Các công ty dầu khí quốc gia của Trung Quốc, Việt Nam và Philippine đã ký kết Thỏa thuận Khảo sát Địa chấn Biển chung [Join Maritime Seismic Undertaking – JMSU) vào tháng 3 năm 2005 như một thỏa thuận thương mại về tiến hành khảo sát tiền thăm dò dầu khí tại các khu vực thuộc Trường Sa. Lúc đầu thỏa thuận này chỉ được ký giữa Trung Quốc và Philippine, nhưng sau đó Việt Nam đã quyết định tham gia vào năm 2005. Việc ký thỏa thuận này đảm bảo Manila và Hà Nội chí ít cũng được nằm trong quá trình thăm dò tại những khu vực mà họ đang có yêu sách lãnh thổ chồng chéo với Bắc Kinh. Thỏa thuận được ký bởi các công ty dầu khí quốc gia chứ không phải các chính phủ, điều này đã đơn giản hóa quy trình. Song, sau khi thỏa thuận được ký vào năm 2005 thì đảng đối lập ở Philippine đã chỉ trích thỏa thuận này là một chỉ dấu cho thấy chính phủ đang sẵn sàng làm suy yếu những yêu sách của chính mình về những lãnh thổ đang tranh chấp. JMSU cuối cùng đã hết hiệu lực vào ngày 30 tháng 6 năm 2008. Việc gia hạn sau đó đã bị ảnh hưởng bởi những cáo buộc cho rằng trong lần ký kết đầu tiên Trung Quốc đã hối lộ bên ký kết bằng các khoản cho vay[16].

Ngay cả nếu như một kế hoạch khai thác và phát triển chung cho Biển Nam Trung Hoa được đàm phán thành công, thì khi ấy sự chênh lệch sức mạnh quá lớn và việc thiếu một thỏa thuận bao trùm cho các quyền về chủ quyền của các quốc gia duyên hải vẫn có thể bỏ mặc các bên yếu hơn trong tình thế mong manh trong trường hợp xảy ra những thay đổi về tình hình kinh tế hoặc những thay đổi liên quan đến bối cảnh chiến lược. Do đó, người ta có thể cho rằng một kế hoạch phát triển chung như vậy chỉ có thể thành công nếu như nó được đặt bên trong và được xây dựng xung quanh một hệ thống quản lý hợp tác rộng hơn. Nếu không có một sự dàn xếp sâu sắc hơn thì sự chênh lệch sức mạnh quá lớn có thể sẽ vẫn bỏ mặc các bên yếu hơn trong một tình thế mong manh. Một kế hoạch phát triển chung mà không có cơ cấu thể chế và các cơ chế rộng hơn sẽ chỉ đơn giản tái khẳng định những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc trong tình hình có sự phân bố sức mạnh không đồng đều ở Biển Nam Trung Hoa. Các quốc gia Đông Nam Á có yêu sách lãnh thổ chỉ có thể được đưa vào quá trình khai thác ở các khu vực ở đó họ đang có yêu sách chủ quyền chồng chéo với Bắc Kinh. Ở tình huống của JMSU, Valencia khẳng định rằng sự khảo sát chung là một sự thiệt thòi cho Philippine bởi vì sự khảo sát đó đó bao gồm cả một khu vực nằm trong thềm lục địa hợp pháp của Philippine mà Trung Quốc và Việt Nam đều không yêu sách. Mặt khác, thỏa thuận này đã đem lại tính hợp pháp cho “những yêu sách không xác thực về pháp lý” của Trung Quốc và Việt Nam.[17]”

Nói ngắn gọn, việc ký kết một kế hoạch thăm dò và phát triển chung cần được thực hiện sau khi đã có sự đàm phán về một khung khổ cho phép tạm gác lại những yêu sách lãnh thổ hiện hữu và thiết lập một bộ quy tắc ứng xử mang tính quy định ràng buộc các mối quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và xử lý các tranh chấp hiện hữu hoặc tiềm tàng. Việc thiết lập một khung khổ như vậy dường như rất khỏ xảy ra trong ngắn hạn và trung hạn. Quả thực, sự bế tắc xuất phát từ những yêu sách chủ quyền chồng chéo đan xen với các chính sách dân tộc chủ nghĩa trong nước vẫn tiếp tục là vật chướng ngại quan trọng đối với việc xử lý và giải quyết xung đột ở Biển Nam Trung Hoa theo cách bền vững.

*Người dịch xin để nguyên cách gọi của tác giả về Biển Đông: Biển Nam Trung Hoa.
[1] Xem Mark J. Valencia, “In Response to Robert Beckman” RSIS Commentaries 53 Rajaratnam School of International Studies, June 4, 2007.
[2] Zou Keyman, “Joint Development in the South China Sea: a New Aproach,” The International Journal of Marine and Coastal Law 21-1 (2006):101.
[3] Luz Baguiro, “Three Nations Sign Pact for Joint Spratlys Surveys” The Strait Times, March 15, 2005.
[4] Ralf Emmers, “Keeping Waters Calm in the South China Sea”, The Strait Times, Singapore, November 21, 2002.
[5] Xem Jorn Dosch, Managing Hegemonic Stability,” Asian Perspective 31-1 (2007); Clive Schofield và Ian Storey “Energy Security and South East Asia: The Impact on Maritime Boundary and Territorial Disputes,” Harvard Asia Quarterly, 9-4 (2005).
[6] Michael Richardson, “China’s Land and Sea Claims: Balancing Stability and Desire for Expansion,” The Strait Times, September 7, 2009.
[7] Ian Storey, “China – Vietnam;s Years of Friendship Turns Fractionous,” The Strait Times, Singapore, May 26, 2009.
[8] Giáo sư Robert Beckman đã nêu vấn đề này tại hội thảo do RSIS và Viện Xã hội học Thượng Hải đồng tổ chức tại Singapore ngày 11 tháng 9 năm 2009.
[9] Barry Wain, “South China Sea: ASEAN caught in a Tight Spot,” The Strait Times, September 16, 2010.
[10] Leni Stenseth, National and Foreign Policy – The Case of China’s Nansha Rhetoric (Dissertation submitted to the Department of Political Science, University of Oslo, 1998), 10.
[11] Bob Catley and Makmur Keliat, Spratlys: The Disputes in the South China Sea (Aldershot, UK: Ashgate Publishing, 1997) 35.
[12] Joshnia P. Rowan, “The U.S. – Japan Security Alliance, ASEAN and the South China Sea Dispute,” Asian Survey 45-3 (2005): 426.
[13] Erik Kreil, “Energy Issues in the South China Sea Region,” in Cooperative Monitoring in the South China Sea, ed. John C. Baker and David G. Wiencek (Westport, CT: Praeger; 2003), 38.
[14] Xem Điều 121 (3) của Công ước UNCLOS năm 1982 trong Văn bản Chính thức của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển và các Phụ lục và Bảng chú dẫn. New York, Liên Hợp Quốc, năm 1983.
[15] Leszek Buszynski và Iskandar Sazlan, “Maritime Claims and Energy Cooperation,” Contemporary Southeastasia 29-1 (2007): 147.
[16] Ian Storey, “Trouble and Strife in the South China Sea Part II: the Philippines and China, China Brief [The Jamestown Foundation] 12-9, April 28, 2008, 6.
[17] Xem Valencia, “In Response to Robert Beckman”.



New posts:


Share
Xem thêm »

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Cảnh sát giao thông " tràng đầy sức sống"

Bạn hãy tưởng tượng, chuyện gì sẽ xãy ra nếu không có Cảnh sát giao thông ?
Hỏi thế để chúng ta đừng quên vai trò quan trọng của CSGT. Ngoài những chuyện như CSGT đánh chết dân, CSGT nhận tiền mãi lộ, CSGT không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển mô-tô. Cảnh sát giao thông đeo kính đen, đứng ẩn mình sau những lùm cây và bất ngờ xuất hiện khi bạn đến gần,... còn lại, "về cơ bản", CSGT đều tốt. Dưới đây, những hình ảnh "đầy sức sống" về CSGT.

Đeo kính đen (Ảnh: VNExpress.net)

Không đội mũ bảo hiểm

í...í... cái gì vậy ?

Ở đây mây khối mờ nhân ảnh...

Dự án đồng phục mới, nếu áp dụng chắc... tui té xe

CSGT chuyên nghiệp
Còn tiếp Dòng 2 - ô 4

New posts:



Share
Xem thêm »

Libya - Chiến trường của các tập đoàn vũ khí

( Thanh Niên Online, hình ảnh thêm vào bởi Lực Nguyễn)
Libya trở thành nơi "quảng cáo" lý tưởng cho các loại vũ khí mới của phương Tây, trong đó không ít loại từng được giới thiệu cho nhà lãnh đạo Muammar Gaddafi.
Chiếc chiến đấu cơ Rafale của Pháp chễm chệ tại căn cứ không quân Mitiga bên ngoài thủ đô Tripoli của Libya. Phần đuôi máy bay phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh làm hàng chục đàn ông, phụ nữ và cả trẻ em đứng lố nhố xung quanh phải nheo mắt.
Chiến đấu cơ Typhoon
Chiến đấu cơ F-18, Hoa Kỳ
Tên lửa Tomahawk, Hoa Kỳ
"Ông kẹ" trên vùng biển Lybia
Đó là cảnh tượng trong một bức ảnh đăng trên website hàng không Scramble.nl (Hà Lan), được chụp tại cuộc triển lãm hàng không Lavex do các tướng lĩnh Libya tổ chức hồi tháng 10.2009. Bức ảnh là một trong những bằng chứng cho thấy nghịch lý trong chiến dịch không kích Libya do NATO chỉ huy nhằm "bảo vệ dân thường" theo Nghị quyết 1973 của HĐBA LHQ. Căn cứ Mitiga chính là một trong những nơi đầu tiên hứng tên lửa và bom của liên quân.
Rafale và Typhoon

Theo Reuters, để triệt tiêu các hệ thống phòng không của nhà lãnh đạo Muammar Gaddafi, các nước phương Tây, đặc biệt là Pháp, đang sử dụng những loại máy bay và vũ khí tối tân mà mới hơn một năm trước, họ đã biểu diễn cho nhà lãnh đạo Libya "thưởng lãm". Những chiếc Rafale từng được chiêm ngưỡng tại triển lãm Lavex chính là những máy bay đầu tiên không kích Libya cách đây hơn 2 tuần.
Chiến dịch Libya cũng đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của Typhoon, một đối thủ cạnh tranh của Rafale do Anh, Đức, Ý và Tây Ban Nha hợp tác sản xuất, trong đó Anh làm "chủ xị". Một phiên bản máy bay này của Không lực Ý cũng được giới thiệu tại cuộc triển lãm Lavex 2009. Chưa hết, tháng 11.2010, đại diện các hãng vũ khí lớn nhất châu Âu là Dassault của Pháp, "cái nôi" của máy bay Rafale và Eurofighter, nơi sản xuất Typhoon, còn sang Tripoli để tiếp tục chào hàng.
Thời thế luôn đổi thay, bạn có thể trở thành thù bất cứ lúc nào và ngược lại, chỉ có các tập đoàn sản xuất vũ khí là luôn hưởng lợi. Vùng cấm bay trên bầu trời Libya trở thành một cuộc tiếp thị quan trọng dành cho các khách hàng tiềm năng, khẳng định sức mạnh máy bay chiến đấu và bom thông minh của phương Tây, hoặc nhắc nhở về sự cần thiết phải mua những hệ thống phòng thủ để đối phó chúng. Francis Tusa, biên tập viên của nguyệt san quốc phòng Defense Analysis (Anh) nhận định: "Chiến dịch này đang trở thành nơi triển lãm tốt nhất dành cho các loại máy bay cạnh tranh nhau từ nhiều năm qua, hơn cả cuộc chiến Iraq năm 2003", đặc biệt là giữa Typhoon và Rafale.
Cách tiếp thị hiệu quả nhất
Chiến dịch không kích Libya diễn ra cùng thời điểm với một sự gia tăng đột biến về nhu cầu trên thị trường chiến đấu cơ, vốn trị giá 60 tỉ USD/năm. Đối với những quốc gia và tập đoàn vũ khí, không có công cụ quảng cáo nào hiệu quả hơn tác chiến thực sự. Reuters dẫn lời một cựu quan chức phụ trách xuất khẩu thiết bị quốc phòng của một nước thành viên NATO nhận định: "Việc triển khai một máy bay hay một loại vũ khí mới chính là cách tiếp thị hiệu quả nhất".
Theo các chuyên gia, để thuyết phục khách hàng tiềm năng, những thiết bị quân sự cần được thử nghiệm và... sống sót qua thực chiến, tạo điều kiện cho người mua kiểm tra tính xác thực của những lời quảng cáo. Giới quân sự toàn thế giới đang dõi mắt vào Libya nhằm tìm kiếm thông tin chi tiết về độ tin cậy, khả năng các máy bay phối hợp hoạt động nhịp nhàng với hệ thống chỉ huy, cũng như khả năng các phi đội thực hiện những cuộc xuất kích với cường độ cao và có chi phí sửa chữa, bảo trì tối thiểu.
Kết quả thu được là không nhỏ. Ả Rập Xê Út, Ấn Độ, Brazil, Đan Mạch, Hy Lạp, Kuwait và UAE nằm trong danh sách ngày càng dài những nước muốn sắm một hoặc nhiều loại chiến đấu cơ đang hoạt động tại Libya. "Nóng" nhất trong thời điểm hiện tại là kế hoạch của Ấn Độ mua 126 máy bay trị giá khoảng 10 tỉ USD. Theo báo The Wall Street Journal, đây sẽ là thương vụ lớn nhất thế giới trong 15 năm trở lại đây. Bốn công ty đang chạy đua nhằm giành hợp đồng trên - gồm Dassault với rafale, Eurofighter với Typhoon, Lockheed Martin với F-16 và Boeing với F/A-18. Tất cả những máy bay này đều có mặt trong chiến dịch không kích Libya. Ứng viên thứ năm, chiến đấu cơ Saab Gripen của tập đoàn Saab đã có mặt ở căn cứ không quân ở Sicily, Ý, sẵn sàng tham gia hành động tác chiến trên không đầu tiên của không lực Thụy Điển trong nhiều chục năm qua. Bên cạnh máy bay, Pháp cũng "biểu diễn" tàu khu trục nhỏ hạng Horizon và các tên lửa không đối đất tối tân nhất từ Địa Trung Hải.
Không chỉ có các thiết bị tấn công như máy bay và tên lửa. Chiến dịch không kích cũng là cơ hội cho các hãng chế tạo hệ thống cảnh báo và tên lửa phòng thủ. Reuters dẫn lời Siemon Wezeman, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (Thụy Điển), nhận xét: "Libya có hệ thống phòng không bình thường và việc máy bay liên quân tung hoành như chốn không người tạo ấn tượng rằng nếu muốn tự vệ, bạn cần có máy bay hoặc hệ thống phòng thủ hiệu quả". Những nước vùng Vịnh đang có nhu cầu cao mua các hệ thống phòng thủ của Lockheed Martin và Raytheon nhằm đối phó cái gọi là "mối đe dọa từ Iran".
Thế trên chân của Pháp

Trong "cuộc chiến PR" ẩn sau chiến dịch không kích Libya, các chuyên gia phân tích cho rằng Rafale đang giành phần thắng. Không chỉ vì nó đảm nhận vai trò chủ chốt trong ngày đầu tiên của chiến dịch, mà còn xới tung các căn cứ và xe thiết giáp của Libya nhờ được trang bị tên lửa không đối đất, điều mà Typhoon đến nay chỉ mới thực hiện được trong các cuộc thử nghiệm. Thay vào đó, Typhoon tập trung vào đối đầu với máy bay của quân đội Libya, vốn không được đánh giá cao, nên không tạo ấn tượng bằng.
Giới chức Pháp luôn bác bỏ chỉ trích rằng nước này cố tình "show hàng" bằng cách nhanh chóng triển khai các máy bay Rafale đến Libya ngay sau khi HĐBA LHQ thông qua Nghị quyết 1973. Theo họ, máy bay này có độ linh hoạt cao và rất phù hợp với việc phá hủy xe tăng của quân đội Libya khi đó đang áp sát các vị trí của lực lượng chống đối tại miền đông nước này. Nhưng có một điều chắc chắn rằng vai trò tiên phong mà Tổng thống Nicolas Sarkozy giành được cho thấy một vị thế ngoại giao tự tin hơn và Pháp hy vọng điều này sẽ gián tiếp làm tăng doanh số của Rafale. Các đối thủ cạnh tranh sẽ phải chuẩn bị cạnh tranh với một chiến dịch mua bán rầm rộ của Pháp một khi cuộc xung đột kết thúc, hoặc thậm chí là trước đó.
"Ông Sarkozy đã làm được việc lớn là đưa Rafale đến Libya và bắn trúng một đoàn xe trước khi chiến dịch quân sự mở màn. Ông ấy sẽ đi đến các thị trường xuất khẩu tiềm năng và nói rằng đó là điều máy bay của họ có thể làm", Reuters dẫn lời một nhà quản lý công nghiệp quốc phòng ở một nước đối thủ của Pháp về xuất khẩu vũ khí, nhận định. Theo các chuyên gia, đây là điều sẽ khiến Mỹ đau đầu bởi Washington tỏ ra thụ động trong quá trình thiết lập vùng cấm bay ở Libya và sau đó còn chọn cách lùi về tuyến sau để làm nhiệm vụ hỗ trợ cho các đồng minh.

Hé lộ đời tư Ông Gaddafi


Sau thời gian "ở ẩn" kể từ khi về nước hồi tháng 2, Oksana Balinskaya, một trong 5 y tá riêng của nhà lãnh đạo Muammar Gaddafi (ảnh), vừa tiết lộ một số thông tin về đời tư của ông. Trong cuộc phỏng vấn hiếm hoi với báo Nga Komsomolskaya Pravda hôm 5.4, cô này cho biết ông Gaddafi muốn những người trung thành gọi mình là "papa" (bố) và nhà lãnh đạo Libya thường tặng họ những chiếc đồng hồ bằng vàng của Ý có in ảnh mình vào mỗi dịp kỷ niệm ngày ông lên cầm quyền (1.9). Cũng theo Balinskaya, sức khỏe của ông rất tốt và thực đơn ưa thích của ông là đồ ăn Ý, bánh mì kiểu Bắc Phi và thịt lạc đà. Cô cũng phủ nhận tin đồn một y tá người Ukraine khác, cô Galyna Kolotnytskaya, 38 tuổi, có quan hệ tình cảm với nhà lãnh đạo 68 tuổi. Kolotnytskaya cũng trở về Ukraine trong tháng 2, nhưng từ chối gặp gỡ báo chí.

( Thanh Niên Online, hình ảnh thêm vào bởi Lực Nguyễn)

Share
Xem thêm »